Trang chủ   I   Về SSI   I   Quan hệ Nhà đầu tư   I   Nghề nghiệp   I   Cộng đồng   I   Liên hệ
    
Cổ phiếu   Tin tức   Phân tích
Công ty Cổ phần VICEM Vật liệu Xây dựng Đà Nẵng HOSE : DXV

Doanh Nghiệp A-Z

 

Lịch sử Hình thành
  • Ngày 28/10/1975: Công ty xi măng vật liệu xây dựng xây lắp Đà Nẵng tiền thân là Công ty Vật tư xây dựng số 2 được thành lập theo quyết định số 503/BXD-TCCB của Bộ Xây dựng.
  • Năm 1979: Công ty được đổi tên và thành lập Nhà máy gạch ngói Quảng Đà - trực thuộc Bộ xây Dựng.
  • Năm 1981: Công ty được đổi tên thành Xí nghiệp liên hợp gạch ngói số 2 trực thuộc Bộ xây Dựng.
  • Năm 1984: Công ty đổi tên thành Xí nghiệp liên hợp cung ứng và sản xuất vật liệu xây dựng, gọi tắt là Xí nghiệp liên hợp  vật liệu xây dựng số 2 – Trực thuộc Bộ Xây dựng.
  • Tháng 09/1993: Công ty đổi tên thành Công ty xi măng –  vật liệu xây dựng Đà Nẵng trực thuộc Liên hợp các Xí nghiệp xi măng Việt Nam theo Quyết định số 446/BXD-TCLD.
  • Tháng 07/1996: Công ty được bổ sung tên gọi chính thức là Công ty xi măng - Vật liệu xây dựng xây lắp Đà Nẵng trực thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam theo quyết định số 662/BXD-TCLĐ.
  • Ngày 01/06/2007: Công ty chính thức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần.
  • Ngày 24/01/2008: Cổ phiếu của công ty được giao dịch tại HOSE.
  • Ngày 04/11/2011: Công ty đổi tên thành Công ty Cổ phần VICEM Vật liệu Xây dựng Đà Nẵng.


Lĩnh vực Kinh doanh
  • Sản xuất kinh doanh xi măng, các sản phẩm từ xi măng và các chủng loại vật liệu xây dựng khác.
  • Sản xuất vỏ bao xi măng, bao bì các loại.
  • Xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng.
  • Kinh doanh và kinh doanh XNK vật tư, phụ tùng, thiết bị, vật liệu xây dựng.
  • Kinh doanh vận tải đường sắt, đường bộ và đường thủy.
  • Đầu tư kinh doanh bất động sản, dịch vụ cho thuê nhà và văn phòng.
  • Các ngành nghề khác theo giấy phép đăng ký kinh doanh.
Vị thế Công ty
  • Công ty Cổ phần VICEM Vật liệu Xây dựng Đà Nẵng là đơn thành viên thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam với chức năng và nhiệm vụ chính là kinh doanh các loại xi măng của Tổng công ty trên thị trường Miền Trung và Tây Nguyên, là đơn vị chủ lực của Tổng công ty về kinh doanh xi măng tại khu vực Miền Trung và Tây Nguyên.
  • Công ty kinh doanh các vật liệu xây dựng như gạch nung, đá ốp Granit, vỏ bao XM. Hiện tại, thị phần phân phối xi măng của Công ty chiếm khoảng 45% tại khu vực Miền Trung và Tây Nguyên.
  • Công ty hiện có một xí nghiệp sản xuất vỏ bao xi măng Đà Nẵng có công suất 25 triệu vỏ bao/năm, xí nghiệp gạch An Hòa với lò nung gạch Tuynen công suất 30 triệu viên/năm, lò nung Tuynen tại nhà máy gạch Lai Nghi có công suất 15 triệu viên/năm.
Chiến lược Phát triển và Đầu tư
  • Duy trì và phát triển thị trường truyền thống: Thị trường Tây Nguyên
  • Giữ vững vị thế là doanh nghiệp kinh doanh xi măng hàng đầu của khu vực Tây Nguyên với mạng lưới phân phối rộng khắp
  • Đầu tư mở rộng sản xuất sản phẩm bao dán PE, tăng cường mở rộng thị trường sản phẩm vỏ bao KPK, KP nhằm nâng cao sản lượng lên trên 25 triệu sản phẩm.
  • Tập trung vào các sản phẩm chính: Xi măng VICEM, vật liệu xây dựng (gạch tuynen, bao bì...) và kinh doanh bất động sản.

 

Các dự án lớn
PAN style="FONT-FAMILY: Arial">
  • Dự án nhà máy sản xuất gạch bê tông khí chưng áp tại địa bàn Quảng Nam với quy mô đầu tư giai đoạn đầu là 200.000m3/năm và có thể mở rộng quy mô lên 400.000 m3/năm với tổng mức đầu tư dự kiến 200-300 tỷ đồng.
  • Dự án gạch không nung (gạch xi măng cốt liệu) công suất 10 triệu viên/năm tại Xí nghiệp gạch Tuynel Lai Nghi với chi phí đầu tư dự kiến 4 tỉ đồng.
Triển vọng Công ty
  • Công ty sở hữu hệ thống phân phối ở hầu hết các tỉnh miền Trung.
  • Công ty nhận được sự hỗ trợ tích cực từ Tổng công ty và các đơn vị thành viên trong tổng công ty.
  • Công ty hiện có một xí nghiệp sản xuất vỏ bao xi măng Đà Nẵng có công suất 25 triệu vỏ bao/năm, xí nghiệp gạch An Hòa với lò nung gạch Tuynen công suất 30 triệu viên/năm, lò nung Tuynen tại nhà máy gạch Lai Nghi có công suất 15 triệu viên/năm.
Rủi ro Kinh doanh chính
  • Giá cả một số vật tư chủ yếu như xăng dầu, than, hạt nhựa, giấy,... tăng làm tăng chi phí đầu vào gây ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
  • Thị trường xi măng trong khu vực Công ty đang kinh doanh tiếp tục bị cạnh tranh gay gắt với các thương hiệu xi măng mới với giá bán thấp hơn.
  • Kế hoạch kinh doanh của công ty phụ thuộc vào Tổng công ty xi măng Việt Nam, do đó công ty bị phụ thuộc về mặt thị phần và định hướng phát triển.